Breaking News

Tác dụng của thuốc heparin

Tình trạng máu đông nếu không nhanh chóng điều trị không những ảnh gây hậu quả nặng nề cho bệnh nhân mà có thể gây tử vong. Hiện nay, có 3 nhóm thuốc chống máu đông chính được sử dụng trên lâm sàng ( thuốc kháng vitamin K, thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc heparin), mỗi loại có bản chất và cơ chế tác dụng khác nhau. Nhưng trong đó, thuốc chống đông heparin là thuốc được nhiều người tin tưởng lựa chọn bởi nó mang đến hiệu quả tốt. Nhằm giúp bạn đọc nắm rõ hơn về loại thuốc này, chúng tôi xin chia sẻ đến bạn một số thông tin qua bài viết: Tác dụng của thuốc heparin. Mời bạn cùng đón xem!

Bệnh máu đông là bệnh gì?

Bệnh máu đông hay còn gọi là bệnh rối loạn đông máu, đây là một bệnh hiếm gặp mang tính di truyền và thường gặp nhiều ở nam giới. Thông thường, bệnh đông máu sẽ được chẩn đoán sau khi người bệnh chảy máu bất thường và gặp khó khăn trong khi cầm máu. Một số dấu hiệu khi mắc bệnh máu đông thường gặp đó là:
+ Chảy máu kéo dài khi bị thương hoặc sau khi phẫu thuật
+ Chảy máu bất thường sau khi tiêm chủng
+ Chảy máu cơ sâu ở chân, gối, khuỷu,… gây ra đau sưng cứng và khó cử động khớp
+ Nhiều vết bầm tím trên da
+ Đi tiểu hoặc đi cầu kèm theo máu

Bệnh máu đông gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân nếu không kịp thời chữa trị. Đó chính là việc hình thành nên huyết khối ở động mạch, gây ra đột quỵ và có thể ảnh hưởng đến tính mạng.  Trong nhiều trường hợp, chẩn đoán xác định nguyên nhân dẫn đến bệnh đông máu sẽ dựa vào những biểu hiện lâm sàng: kết quả sau phẫu thuật gần nhất, vết thương, cơ thể khó cử động trong thời gian dài, ung thư,… Nếu không phát hiện những yếu tố trên, các bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm chuyên sâu kỹ thuật cao ở bệnh nhân có các biểu hiện sau đây:
+ Gia đình có người từng mắc huyết khối tĩnh mạch sâu
+ Bị huyết khối tĩnh mạch sâu hơn 1 lần
+ Huyết khối ở vị trí bất thường: xoang hang, tĩnh mạc treo,…
+ Bị huyết khối ở tĩnh mạch hoặc động mạch trước 50 tuổi

Thông tin về thuốc heparin

Dạng bào chế: dung dịch tiêm
Đóng gói: hộp 5 lọ 5ml
Thành phần: Heparin sodium
Hàm lượng: 25000IU/5ml

Heparin là một chất mucopolysacarid sulfat tự nhiên, chiết xuất từ động vật. Khối lượng phân tử heparin dao động trong khoảng 5000 đến 30000 dalton. Trong thực tế điều trị hiện nay có 2 loại heparin: heparin thường (trọng lượng phân tử trung bình 12.000 – 15.000) và heparin trọng lượng phân tử thấp (trọng lượng trung bình 5.000).

Heparin không hấp thu qua đường uống và bị phân hủy ở đường tiêu hóa. Do vậy các heparin phải tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch, không tiêm bắp. Heparin liên kết rộng rãi với lipoprotein huyết tương, không qua nhau thai và sữa mẹ.

Tác dụng của thuốc heparin

Thuốc heparin có tác dụng chống đông máu cả trong và ngoài cơ thể thông qua tác dụng lên antithrombin III ( kháng thrombin). Chất ngày có trong huyết tương, làm mất hiệu lực của thrombin và các yếu tố đông máu đã hoạt hóa IXa, Xa, XIa, XIIa.

Heparin tạo phức với antithrombin III làm thay đổi cấu trúc phân tử antithrombin III. Phức hợp này thúc đẩy nhanh phản ứng antithrombin III – thrombin. Kết quả là các yếu tố đông máu trên bị mất tác dụng, do đó sự chuyển fibrinogen thành prothrombin và fibrin thành thrombin không được thực hiện.

Các tác dụng này ngăn chặn cục huyết khối đã hình thành lan rộng. Để chống máu đông, heparin đòi hỏi phải có đủ mức antithrombin III trong huyết thanh.

Chỉ định và chống chỉ định dùng thuốc heparin

Chỉ định dùng thuốc heparin

– Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu trong giai đoạn cấp bao gồm tắc mạch phổi, nhồi máu cơ tim có hoặc không có sóng Q, đau thắt ngực thể không ổn định, tắc động mạch ngoài não và một số trường hợp rối loạn đông máu.
– Dự phòng đông máu trong lọc máu ngoài thận hoặc các trường hợp lọc máu ngoài cơ thể.
– Dự phòng huyết khối tĩnh mạch và/hoặc động mạch trong phẫu thuật (lưu ý 3), đối với các bệnh nhân nằm lâu ngày sau bệnh lý cấp tính (nhất là sau nhồi máu cơ tim, suy tim, sau tai biến mạch máu não do thiếu máu cục bộ kèm theo liệt chi dưới ở bệnh nhân suy thận nặng).

Chống chỉ định

Chống chỉ định tương đối:
– Với liều điều trị:
+ Bệnh nhân bị tai biến mạch não do thiếu máu cục bộ tiến triển ở giai đoạn cấp, có hoặc không có rối loạn ý thức (với tai biến mạch não do tắc mạch, thời gian chờ là 72 giờ).
+ Bệnh nhân có viêm nội tâm mạc cấp (trừ trường hợp sử dụng các thiết bị hỗ trợ)
+ Bệnh nhân tăng huyết áp chưa được kiểm soát.
– Với liều dự phòng: trong 24 giờ đầu sau khi chảy máu nội sọ.

Chống chỉ định tuyệt đối:

– Với tất cả các chế độ liều (bao gồm cả điều trị và dự phòng) :
+ Bệnh nhân có tiền sử giảm tiểu cầu nặng typ II (giảm tiểu cầu gây ra do heparin) khi sử dụng heparin không phân đoạn hoặc heparin khối lượng phân tử thấp.
+ Bệnh nhân có bệnh lý chảy máu bẩm sinh.

– Với liều điều trị :
+ Bệnh nhân có tổn thương cơ quan dễ bị chảy máu.
+ Bệnh nhân có tình trạng chảy máu hoặc nguy cơ chảy máu liên quan đến rối loạn huyết động.
+ Bệnh nhân bị chảy máu nội sọ.
Ngoài ra, không bao giờ được thực hiện gây tê ngoài màng cứng hoặc gây tê tủy sống trong lúc đang sử dụng phác đồ heparin ở liều điều trị.

Liều lượng dùng thuốc heparin dành cho người lớn

– Dành cho người bị nhồi máu cơ tim: dùng 5000 đơn vị truyền tĩnh mạch một lần như một liều lớn, tiếp theo 1000 đơn vị/giờ bằng truyền tĩnh mạch liên tục.
– Dành cho bệnh huyết khối, huyết khối tắc mạch: dùng 100 đơn vị/ml mỗi 6-8 giờ cho ống thông PVC và heparin ngoại vi. Ống bổ sung cần được tiêm khi máu ứ đọng và cần được quan sát thấy trong ống thông, sau khi được sử dụng cho dùng thuốc hoặc máu và sau khi rút máu từ ống thông.
– Dành cho người bị tắc nghẽn mạch máu – phòng ngừa: ùng 5000 đơn vị dưới da mỗi 8-12 giờ. Liều này có thể được điều chỉnh để duy trì aPTT trên mức bình thường.
– Dành cho bệnh thuyên tắc phổi: Đối với dạng thuốc truyền tĩnh mạch liên tục, bạn dùng 5000 đơn vị truyền tĩnh mạch một lần rồi tiếp theo truyền tĩnh mạch liên tục 1300 đơn vị/giờ. Đối với dạng thuốc tiêm dưới da liên tục, bạn dùng 17500 đơn vị tiêm dưới da mỗi 12 giờ. Liều lượng nên được điều chỉnh để duy trì kiểm soát aPTT từ 1,5 đến 2,5 lần .
– Dành cho bệnh đau thắt ngực: dùng 5000 đơn vị truyền tĩnh mạch một lần, tiếp theo 1000 đơn vị/giờ bằng truyền tĩnh mạch liên tục.

Phụ nữ mang thai và cho con bú có được dùng thuốc heparin không?

Như mọi người đã biết, thời gian mang thai và cho con bú chúng tôi dường như không sử dụng bất cứ loại thuốc nào để tránh gây ảnh hưởng đến thai nhi cũng như sự phát triển của trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, không phải loại thuốc nào cũng gây hại đến sức khỏe thai nhi, có một số loại thuốc mẹ bầu và cho con bú vẫn có thể sử dụng được.

Đối với thuốc heparin chưa có báo cáo về độc tính đối với bào thai hay dị tật liên quan đến heparin trên động vật cũng như trên người. Tuy nhiên, khi sử dụng cho phụ nữ có thai, cần hết sức thận trọng do nguy cơ chảy máu nhau thai và tử cung, đặc biệt vào thời điểm chuyển dạ. Do đó, khi có dự định gây tê ngoài màng cứng, phải ngừng sử dụng heparin.

Phụ nữ đang cho con bú: heparin không bài xuất vào sữa mẹ và cũng không hấp thu qua đường tiêu hóa, nên có thể sử dụng cho phụ nữ đang cho con bú.

Hi vọng, với những thông trên sẽ giúp bạn nắm bắt rõ hơn về những tác dụng của thuốc heparin cũng như cách sử dụng nó như thế nào cho an toàn, hiệu quả tốt nhất. Bài viết trên chỉ mang tính chất giúp bạn đọc tham khảo, vì vậy mọi người trước khi sử dụng thuốc hãy tham khảo ý kiến từ bác sĩ đã nhé!

Trước:
Sau:

Check Also

tác dụng của thuốc gliclazide

Gliclazide là thuốc có tác dụng trong việc điều trị bệnh tiểu đường được nhiều …

Bạn đang xem Tác dụng của thuốc heparin